HẢI GIA
Công ty Thiết kế Kiến trúc – Quy hoạch hàng đầu Quảng Nam
Xem Phim mô hình 3D phương án Quy hoạch - Thiết kế “Nghĩa Trang liệt sỹ Quảng Nam”
tại website:
http://haigiaquangnam.com
Hải Gia, Công ty Thiết kế Kiến trúc duy nhất tại Quảng Nam có làm phim mô hình 3D
Địa chỉ: 236 Hùng Vương Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT: 0903.597.789

Bối cảnh xã hội của đô thị thông minh

Đăng lúc: Thứ ba - 01/08/2017 07:46 - Người đăng bài viết: Trần Thế Vũ
Cách mạng 4.0 dựa trên một hệ thống kỹ thuật, công cụ trên nền tảng kỹ thuật số. Những công cụ này và toàn bộ hệ thống dựa trên nó có thể hứa hẹn giải quyết những vấn đề mấu chốt của thời đại công nghiệp và đạt được những tiêu chí phát triển bền vững mà diễn đàn hậu công nghiệp đưa ra. Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ, thách thức rất lớn, với những hậu quả có thể còn nghiêm trọng hơn những mặt trái trước đây của thời kỳ công nghiệp. Vì thế, bản thân 4.0 chưa đủ để nói là tiến bộ hay không, là thông minh hay không. Vấn đề là công cụ đó được sử dụng như thế nào, để có thể phát huy tối đa những mặt mạnh, hiệu quả bền vững của nó đồng thời giảm thiểu được những nguy cơ, mặt trái của nó
nguồn: https://www.facebook.com/notes/tung-pho-duc/b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-c%E1%BB%A7a-%C4%91%C3%B4-th%E1%BB%8B-th%C3%B4ng-minh/272500623231945/
bối cảnh xã hội của đô thị thông minh
 
I. BỐI CẢNH
Ngày nay, khắp nơi đều nói về đô thị thông minh, nhà thông minh, điện thoại thông minh và vô số thứ thông minh khác. Tuy nhiên, ít ai thực sự đặt câu hỏi tại sao đến bây giờ mới lại có nhiều thứ thông minh thế? Một sự cải tiến về bất kỳ một thứ gì cho tốt hơn trước liệu có phải thông minh không? Một cái máy tính, một con robot làm được hết những việc con người vẫn làm liệu có phải thông minh không?
Thực tế, muốn hiểu một cách hệ thống thế nào là đô thị thông minh nói riêng và làn sóng các loại khái niệm thông minh nói chung ta phải nắm được ba vấn đề chính:
1- Bản chất của thời kỳ công nghiệp
2- Diễn đàn hậu công nghiệp,
3- Cách mạng công nghiệp 4.0
1.1 Thời đại công nghiệp:
Theo Schwab, thời đại công nghiệp bao gồm 4 cuộc cách mạng về công nghiệp
Cách mạng công nghiệp lần 1: Động cơ hơi nước và sản xuất bằng máy móc cơ học.
Cách mạng công nghiệp lần 2: Động cơ điện và sản xuất hàng loạt.
Cách mạng công nghiệp lần 3: Điện tử và công nghệ tin học – Dây chuyền sản xuất tự động hoá.
Cách mạnh công nghiệp lần 4: Hệ thống kết nối ảo toàn cầu
Cách chia thời kỳ công nghiệp làm 4 giai đoạn này chủ yếu dựa trên tốc độ sử lý thông tin và vận hành của hệ thống máy móc công nghiệp. Tốc độ càng cao thì năng suất, hiệu quả càng lớn. Tuy nhiên đó chỉ là ở bề ngoài. Câu hỏi cốt lõi đằng sau là tại sao năng suất, tốc độ sản xuất lại là chỉ số chính để đánh dấu các bước tiến của thời kỳ công nghiệp? Để trả lời câu hỏi đó, ta phải hiểu rằng thời đại công nghiệp đã được gây dựng trên nền tảng là 3 trụ cột chính về mặt triết lý và tư tưởng:
1- Khoa học vũ trụ: từ thế kỉ 16, 17, với những tên tuổi nổi tiếng như Kopemik, Kepler, Gagile, Newton v.v. loài người đã từng bước gây dựng nên một vũ trụ quan cơ học, với quan điểm chính là Vũ trụ về bản chất là một cỗ máy cơ học, tuy rất phức tạp nhưng vẫn tuân theo những quy luật khách quan. Con người có khả năng tìm hiểu dần dần các quy luật đó, và giả sử con người có khả năng thu thập rất nhiều thông tin và xử lý chúng cực nhanh thì có thể tiệm cận tới việc thấu hiểu sự thật về vũ trụ. Hệ quả thực tế của vũ trụ quan cơ học này là triết lý cho rằng mọi thứ chỉ là lượng. Chất là do lượng mà thành, lượng đổi chất đổi. (Chẳng hạn như con người cũng là một tổ hợp các nguyên tố đơn giản ghép lại với nhau, đến một mức độ phức tạp nhất định nó sẽ tạo ra sự sống, tạo ra tri thức.) Từ triết lý tất cả là lượng đấy, mới dẫn đến một tiền giả định vô cùng quan trọng là yếu tố tăng trưởng sẽ là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tiến bộ, vì nếu như mọi sự chỉ là lượng thôi thì càng nhiều càng tốt. (Trước đấy thì hoàn toàn không phải như thế. Thời kỳ tiền công nghiệp, yếu tố định tính là thước đo quan trọng hơn lượng. Chẳng hạn một cái áo kỷ niệm do bố để lại không thể thay bằng 10 cái áo khác.)
2- Triết học thực nghiệm: từ thế kỉ 17, 18 có những triết gia nổi tiếng như Hobbes, Hume, Descart, Spinoza gây dựng nên trường phái triết học thực nghiệm, với cốt lõi là phương pháp khoa học, được cho là phương pháp duy nhất để tìm hiểu sự thật về vũ trụ cơ học. Cốt lõi của phương pháp này dựa trên nền tảng là phân tích, tức là chia cái bộ máy vũ trụ rất phức tạp đấy thành từng phần nhỏ, đơn giản để nghiên cứu, tìm hiểu. Ứng dụng của phương pháp phân tích trong sản xuất là chuyên môn hóa. Trước đây người thợ thủ công sẽ làm từ a đến z để tạo ra một sản phẩm, nhưng đến thời đại công nghiệp thì quy trình sản xuất đó được phân tích, chia nhỏ ra thành từng động tác, từng nhịp một. Chính nhờ việc phân tích này mà những động tác đó có thể được thực hiện dần dần bằng máy. (Fordism)
3- Phong trào khai trí: CM Pháp (TK 18), với những tên tuổi nổi bật là Voltair, Rousseau, đặc biệt nhấn mạnh vào câu chuyện bình đẳng nhân quyền, dựa trên một niềm tin vào năng lực nhận thức sự thật của mỗi con người, khiến cho con người không còn là con chiên thụ động của chúa nữa. Câu chuyện bình đẳng nhân quyền ở mức rất cao đó, khi ứng dụng vào thực tế, trở thành quan điểm cho rằng tất cả mọi người đều có cùng một nhu cầu như nhau. Từ đấy lại dẫn đến khái niệm chuẩn hóa. (Chẳng hạn đơn vị đo lường mét khách quan, tính theo đường kinh tuyến trái đất, mới được hình thành từ năm 1801. Trước đó, người ta đo độ dài bằng các đơn vị cá nhân như gang, thốn, bước, sải v.v. vì họ cho rằng mỗi người khác nhau sẽ là thước đo riêng cho tiểu vũ trụ của mình, và cho mọi thứ mình cần)
Tóm lại, nếu không cùng thống nhất với nhau rằng mục đích chính của tiến bộ là tăng trưởng kinh tế, phương pháp chính để đạt tăng trưởng là chuyên môn hóa, và điều kiện để những sản phẩm chuyên môn hoá có thể khớp lại với nhau là sự chuẩn hóa thì sẽ không bao giờ có thời đại công nghiệp. Chỉ sau khi có 3 điều kiện này, người ta mới tìm tòi và phát minh ra các loại máy móc, động cơ, mà mỗi thế hệ lại một nhanh hơn, hiệu quả hơn, để ta có thể thấy được là 4 giai đoạn cách mạng công nghiệp nói trên.
Trong nhiều thế kỷ, loài người đã rất tự tin với những thành tựu to lớn đã đạt được từ thời đại công nghiệp, được xây dựng trên cơ sở 3 điều kiện cơ bản, xuất xứ từ 3 nền tảng triết lý rất sâu xa đó. Như vậy, toàn bộ thời đại này, với những thành tựu của nó, phải được coi là thông minh.
Tuy nhiên, ngay từ đầu đã có những người hoài nghi thành tựu này, vì những tác dụng phụ mà chính 3 điều kiện của nó tạo nên. Nhưng do gần như không ai phản bác được những nền tảng triết lý khổng lồ bên dưới, nên các hoài nghi này đã sớm tan rã thành mây khói. Thế nhưng sang tới thế kỷ 20, cả 3 nền tảng của thời kỳ công nghiệp đều bị lung lay tận gốc, bởi chính những hệ thống đã tạo ra nó, là khoa học và triết học. Song song với việc long gốc đó, các tác dụng phụ đã nổi lên thành những tác hại vô cùng lớn, có nguy cơ huỷ diệt loài người. Vì vậy, người ta đã đánh giá lại là những sản phẩm thời đầu công nghiệp thậm chí có thể bị coi là phản tiến bộ, là thảm hoạ, và do đó về cơ bản không thể gọi là thông minh. Cụ thể những phản biện này như thế nào, sẽ được trình bày trong chương tiếp theo: "Diễn đàn hậu công nghiệp".
1.2 Diễn đàn hậu công nghiệp:
Phản biện vũ trụ quan:
Ngay từ đầu, thời đại công nghiệp với triết lý duy vật, trọng vật chất và tăng trưởng của nó, đã khiến rất nhiều người lo ngại. Bởi lẽ ngay cả khi chấp nhận mô hình về vũ trụ cơ học, thì vẫn tồn tại những câu hỏi cơ bản: nếu đó là một cỗ máy thì ai tạo ra nó, và tại sao lại như vậy? Bản thân khoa học không tìm cách trả lời câu hỏi này mà chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề cỗ máy đó hoạt động "như thế nào". Mà nếu chỉ như vậy thì việc thoát khỏi cảnh con cừu, để sánh ngang với thượng đế, chẳng qua là sự hỗn hào không có cơ sở.
Thêm vào đó, từ đầu thế kỷ 20, chính ngành khoa học vật lý, với đỉnh cao là vật lý lượng tử, đã thực sự hoài nghi mô hình cỗ máy cơ học và khả năng hiểu biết sự thật của con người. Quan điểm duy vật bị rung chuyển tận gốc khi ngành này cho biết người ta hoàn toàn chưa hiểu vật chất là gì, thậm chí có tồn tại cái gì là vật chất không.
Phản biện xã hội học:
Ngoài ra, những cỗ máy tăng trưởng hiệu quả của thời công nghiệp ngay từ đầu đã khiến người ta lo lắng rằng đến một ngày nào đó cái máy sẽ hoàn toàn thay thế con người và làm chủ con người. Mặc dù thời kỳ đầu, những người bảo vệ nền công nghiệp khẳng định rằng máy móc sẽ chỉ làm thay những việc đơn giản mà con người không muốn làm, và con người sẽ vẫn giữ vai trò điều khiển máy móc. Nhưng càng ngày, số việc thực sự máy móc không thể làm thay trong quy trình sản xuất càng giảm dần tới mức về lý thuyết là gần như bằng không. Một lý luận cho rằng nếu máy làm hết hộ các việc như vậy, con người càng có thời gian để làm những thứ mình thích, chẳng hạn như làm thơ, triết lý, nghệ thuật v.v. Nhưng rõ ràng ngày càng có nhiều người nhận ra rằng mình không biết sử dụng thời gian tự do đó để tiến hoá lên mức cao hơn, mà càng ngày càng trở thành một động vật tiêu thụ vô tri vô giác, thành trẻ sơ sinh, què quặt về cả tư tưởng lẫn thể xác. Người ta cảm thấy mình vô bổ, không có vai trò gì thực sự cần thiết trên đời, mà chỉ được hệ thống máy móc sản xuất nuôi ăn như những con vật. Sản xuất công nghiệp dẫn tới sự thừa mứa trong việc đáp ứng những nhu cầu vật chất của con người, là tầng nhu cầu dưới cùng trong tháp nhu cầu Maslow, nhưng đồng thời dẫn tới ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc phát triển những nhu cầu bậc cao.
Phản biện môi trường:
Những năm 70 của thế kỷ trước, khủng hoảng dầu lửa toàn cầu dẫn tới việc người ta xét lại tính hiệu quả của công nghiệp. Những tài nguyên có hạn như dầu mỏ, khí đốt, than đá, quặng mỏ các loại, gỗ quý v.v. đều là những thứ phải trải qua một quá trình vật lý đặc biệt, trải hàng ngàn, triệu năm mới hình thành. Nếu muốn tạo lại ra những thứ đó thì sẽ mất rất nhiều tiền. Vậy mà chúng được sử dụng để tạo thành những đồ dùng ngắn hạn, chẳng bao lâu biến thành rác, gây ô nhiễm môi trường. Điều đó có thể ví như một anh nông dân bỗng dưng được thừa hưởng một cây đàn dương cầm steinway cực lớn, cực tốt, để giữa nhà. Anh ta không biết chơi, cũng không biết giá trị cây đàn. Đối với anh ta, cây đàn chỉ chiếm chỗ. Vì thế anh ta sáng kiến chặt cây đàn làm củi nấu cơm, nhất cử lưỡng tiện: vừa tạo chỗ rộng, vừa nấu được nồi cơm. Nhưng ai cũng thấy rõ đây là một hành động phá hoại chứ không phải là tiến bộ. Vì thế, người ta đặt ra tiêu chí đánh giá là một sản xuất chỉ có thể là tăng trưởng, tiến bộ, nếu giá trị sản phẩm tạo ra lớn hơn giá thành để tái sản xuất lại tất cả các nguyên liệu đầu vào. Ngoài ra, việc sản xuất hàng loạt sản phẩm tiêu dùng trong khi không gian sử dụng có hạn dẫn đến việc nhất thiết phải liên tục vứt đi, thay đổi cái mới. Xét theo tiêu chuẩn đó thì gần như bất kì ngành công nghiệp nào làm cũng đều biến từ một tài nguyên quý giá thành rác.
Phản biện sinh thái:
Sau khi nhận ra vấn đề với những nguyên liệu hoá thạch, không có khả năng tái tạo, ngành công nghiệp tìm cách thay thế chúng, nhất là năng lượng, bằng những nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo, như là cây cối. Nông nghiệp công nghệ cao trở thành một phần của dây chuyền công nghiệp. Tuy nhiên, tới những năm 80 thế kỷ trước, người ta bắt đầu nhận ra rằng nông nghiệp cũng là một thảm hoạ. Nó quét sạch những giống loài đa dạng của thiên nhiên ra khỏi khu vực nông nghiệp. Bao nhiêu loài sinh vật tự nhiên tuyệt chủng, biết mất hàng giờ, hàng ngày. Những loài còn lại cũng sống dở chết dở. Mà không chỉ vấn đề nông nghiệp, bản thân mục đích tăng trưởng bằng cách sản xuất công nghiệp hàng loạt đã nhất thiết là phản sinh thái, vì bản chất của sinh thái là đa dạng và độc bản. Thế mà sự đa dạng sinh thái lại được coi là cốt lõi của sự thích ứng của thế giới sinh vật với mọi hoàn cảnh của môi trường. Mất đa dạng sinh thái, thế giới sinh vật sẽ vô cùng dễ bị tổn thương, thậm chí diệt vong, trong đó có cả số phận loài người.
Tóm lại, với 4 phản biện cơ bản nói trên, nhiều người cho rằng nhìn chung, phương thức sản xuất công nghiệp, với tất cả gốc rễ của nó, có hại nhiều hơn là lợi, và vì thế không thể được coi là thông minh.
- Đặc điểm hậu công nghiệp: Với những phản biện nói trên về nền công nghiệp, quan điểm hậu công nghiệp cho rằng chỉ có phát triển bền vững, theo nghĩa là cùng một lúc tiến bộ về cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường thì mới được coi là tiến bộ.
Trong ba trụ cột đó, con người cá thể chứ không phải là máy móc hay tăng trưởng cần được đặt vào trung tâm. Khi con người được phát triển hơn, tiến bộ hơn, nhận thức tốt hơn, tự khắc sẽ có những đòi hỏi cao hơn, giải pháp tốt hơn cho cả kinh tế lẫn môi trường.
Thông tin và dịch vụ được coi là những yếu tố trọng tâm của thời đại mới. Nền kinh tế thông tin và dịch vụ sử dụng ít vật chất, tạo ra ít rác, ít huỷ hoại môi trường, khó có thể bị thừa hoặc tồn kho, đồng thời nó cũng phục vụ trực tiếp từng cá nhân.
Tuy đã có những định hướng rõ ràng, nhưng nhìn chung tư tưởng hậu công nghiệp chưa có được sự hỗ trợ tương xứng của công nghệ, để biến nó thực sự trở thành thời đại mới. Vì thế, nó vẫn chủ yếu được coi như một diễn đàn phản biện thời đại công nghiệp hơn là thực sự một thời đại mới. Tuy vậy, một điều chắc chắn là diễn đàn này đã đưa ra nhận định rằng kiểu tăng trưởng như thời đầu công nghiệp thì không thể gọi là thông minh. Và một giải pháp thông minh nhất thiết phải bền vững theo nghĩa tiến bộ về cả 3 lĩnh vực, đặt biệt là nó phải phát huy được vai trò của từng cá nhân trong xã hội. Mọi giải pháp, mọi công cụ, mọi ứng dụng mà chỉ dẫn tới tăng trưởng kinh tế, chứ không đạt được tính bền vững và định hướng cá nhân hoá nói trên đều không thể được coi là thông minh.
1.3 Cách mạng công nghiệp 4.0 và khái niệm đô thị thông minh
Khái niệm cách mạng công nghiệp 4.0:
Cách mạng công nghiệp 4.0 là khái niệm được Schwab đưa ra để chỉ một nền sản xuất dựa trên nền tảng là mạng kết nối ảo, kỹ thuật số. Cốt lõi của nó bao gồm những công nghệ thông tin như: Cloud, Mobile, AI, IoT, Big data. Đây là những công nghệ dựa trên kết nối tốc độ nhanh nhất có thể - tốc độ ánh sáng.
Cách mạng 4.0 và kỳ vọng hậu công nghiệp:
Những công nghệ này có thể được sử dụng để sản xuất công nghiệp được nhanh hơn, hiệu quả hơn, năng suất cao hơn nữa. Tuy nhiên, nếu xét mức mà cách mạng công nghiệp 3.0 đã đạt được là tự động hoá hoàn toàn thì việc tăng năng suất không phải là bước tiến quan trọng nhất, vì cho dù thông tin có thể được chuyển tải với tốc độ ánh sáng nhưng sản xuất vật chất và hệ thống máy móc vẫn chỉ có thể giữ ở tốc độ cũ. Điểm mấu chốt là Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này gợi ra kì vọng là nó có thể giải quyết được những vấn đề chính mà xã hội công nghiệp mắc phải như diễn đàn hậu công nghiệp đã phản biện. Nói như vậy, thực ra nó không phải là cách mạng công nghiệp lần thứ 4, mà chính là cách mạng hậu công nghiệp lần thứ nhất.
Về Kinh Tế: 4.0 đưa ra hàng loạt những sản phẩm mới, phi vật thể, do đó có thể tăng trưởng rất nhanh và vô hạn, do không bị hạn chế về không gian, vật chất cũng như tốc độ sản xuất. Bên cạnh đó, nó cho phép sản xuất đơn chiếc, may đo theo ý từng người, với tốc độ cao và giá thành giảm. Đây chính là khắc phục điểm yếu cơ bản của công nghiệp là sản xuất hàng loạt một sản phẩm như nhau. Công nghệ 4.0 cũng tạo ra giá trị gia tăng cho mọi sản phẩm nhờ tạo ra một hệ thống dịch vụ cao cấp hơn và tinh vi hơn trước rất nhiều.
Về Xã hội: Công nghệ 4.0 tiếp tục con đường giải phóng con người khỏi dây chuyền sản xuất công nghiệp. Nhưng điều đó thì 3.0 cũng đã làm với tự động hoá. Quan trọng là 4.0 tạo ra cho người ta một cơ hội phát triển cá nhân lên những tầng cao hơn trong cái chuỗi thang giá trị, bằng cách cung cấp rất nhiều loại thông tin, tri thức trong quá trình học suốt đời. Con người có thể hình dung ra mình sẽ sử dụng thời gian có được như thế nào một cách hữu ích.
Về môi trường: Phương thức của nền Kinh tế 4.0: sản phẩm phi vật thể, tập trung chủ yếu vào dịch vụ là hình thức cho phép phát triển kinh tế rất mạnh mà không nhất thiết phải ảnh hưởng đến môi trường.
Những thách thức cơ bản:
Đời 4.0 hứa hẹn sẽ có thể trở thành một thế hệ thông minh, bởi vì cùng một lúc nó đạt được cả 3 tiêu chí phát triển bền vững. Tuy nhiên thì nó vẫn còn một số những thách thức rất lớn:
Về kinh tế:
Sự minh bạch của công nghệ thông tin dẫn đến gia tăng cạnh tranh và tập trung tư bản vào trong tay một số đơn vị dẫn đầu. Trong thị trường, chỉ có kẻ mạnh nhất, giỏi nhất sẽ sống. Gần như không có cơ hội cho chiến lược "đi theo kẻ dẫn đầu". Chẳng hạn tại mọi thời điểm, người ta đều có thể so sánh giá cả, chất lượng, dịch vụ của tất cả các người bán, và vì thế, những đơn vị yếu sẽ không có cơ hội. Trong thời gian rất ngắn tất cả mọi quyền lực kinh tế nó sẽ tập trung vào một vài người, hoặc một vài công ty, đấy là sự độc quyền, với tất cả những nguy cơ mà vấn đề độc quyền mang lại. Hệ thống luật pháp chống độc quyền cho tới nay tỏ ra không đủ để ngăn cản tình trạng này trong lĩnh vực 4.0.
Một nguy cơ cơ bản nữa là mất cân bằng thông tin: người bình thường không bao giờ có nhiều thông tin bằng đối tác. Chẳng hạn nếu ta sử dụng facebook, thì có nghĩa là ta ký một hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ facebook mà trong hợp đồng đó, họ biết nhiều hơn về ta rất nhiều so với ta biết về họ. Và chúng ta biết là toàn bộ nền kinh tế tư bản, lý thuyết kinh tế tư bản dựa trên tiền giả định là các thông tin đều như nhau đối với các bên tham gia hợp đồng. Việc mất cân bằng thông tin phá vỡ toàn bộ cấu trúc, dẫn đến hậu quả rất nguy hiểm mà ngành kinh tế mô tả trong hiện tượng lemons problem. Theo đó thì khi một đối tác không có thông tin về sản phẩm mình ký kết bằng bên kia, họ sẽ luôn có xu hướng muốn giảm giá thành để mong giảm thiểu thiệt hại. Tuy nhiên, do bên bán hiểu rõ về sản phẩm hơn, nên cho dù mặc cả thế nào thì bên mua cũng không bao giờ mua được rẻ, mà chỉ có thể cùng lắm là mua được hàng đúng giá. Như vậy, càng trả giá rẻ, chỉ dẫn đến việc mua hàng tồi, chứ không bao giờ mua được hàng tốt giá rẻ. Kết cục là chất lượng của hàng hóa được giao dịch càng ngày càng giảm, vì hàng đắt và tốt ngày càng khó bán. Từ đó lại dẫn tiếp đến nguy cơ suy thoái chất lượng sống và chất lượng sản xuất, dịch vụ nói chung.
Về mặt xã hội:
Thời đại 4.0 có khái niệm là người thủy tinh. Đó là nguy cơ thông tin riêng tư của từng người bị công bố, sử dụng vào những mục đích bất lợi, mất an toàn cho người đó.
Ngộ độc thông tin: công nghệ 4.0 cung cấp những núi thông tin khổng lồ mà trong đó, không dễ phân biệt cái gì là đúng, cái gì là sai. Ngộ độc thông tin là tình trạng tiếp thu những thông tin không sạch, không đúng, mà không có khả năng sử lý, đào thải, dẫn tới những nhận định sai lệch. Kể cả một thông tin khách quan, vô thưởng vô phạt như tin về một tai nạn giao thông có thể gây ra cảm giác bất an rất vô cớ, khi nó được truyền thông lặp đi lặp lại nhiều lần, từ nhiều hướng, khiến người ta cảm giác khắp nơi tai nạn đang rình mò. Việc ngộ độc này tương tự như ngộ độc thực phẩm, khi ăn quá nhiều một thứ, cho dù vốn là thứ vô hại.
Nghiện thông tin: Thông tin là sản phẩm có khả năng gây nghiện. Tức là khi chúng ta chưa tiến hóa đến mức tiêu hóa được những thông tin đấy thì việc dùng nó hàng ngày quá liều có khả năng gây nghiện, với đầy đủ triệu chứng và tác hại như các loại nghiện ma tuý.
Bị truyền thông dẫn dắt, mất năng lực dân chủ: Toàn bộ xã hội phương tây xây dựng trên cơ sở hợp đồng xã hội giữa những con người dân chủ, biết là mình làm gì khi tham gia vào hợp đồng đó. Nhưng khi những con người đó bị truyền thông, mạng ảo dẫn dắt, khiến cho họ mất khả năng tự chủ thì hậu quả sẽ khôn lường.
Về môi trường
Ô nhiễm môi trường: tuy là về cơ bản, công nghệ 4.0 hứa hẹn nhiều giải pháp giảm thiểu các vấn đề môi trường, nhưng có hai vấn đề vẫn khiến người ta lo lắng từ góc độ môi trường. Vấn đề thứ nhất là toàn bộ những sóng vô tuyến ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống, sức khoẻ của con người và thiên nhiên. Thứ hai là việc kết nối 4.0 có thể dẫn tới gia tăng nhu cầu về sử dụng vật chất, dẫn tới ảnh hưởng môi trường, chứ không chỉ là nhu cầu ảo.
Kết luận: Cách mạng 4.0 dựa trên một hệ thống kỹ thuật, công cụ trên nền tảng kỹ thuật số. Những công cụ này và toàn bộ hệ thống dựa trên nó có thể hứa hẹn giải quyết những vấn đề mấu chốt của thời đại công nghiệp và đạt được những tiêu chí phát triển bền vững mà diễn đàn hậu công nghiệp đưa ra. Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ, thách thức rất lớn, với những hậu quả có thể còn nghiêm trọng hơn những mặt trái trước đây của thời kỳ công nghiệp. Vì thế, bản thân 4.0 chưa đủ để nói là tiến bộ hay không, là thông minh hay không. Vấn đề là công cụ đó được sử dụng như thế nào, để có thể phát huy tối đa những mặt mạnh, hiệu quả bền vững của nó đồng thời giảm thiểu được những nguy cơ, mặt trái của nó

Tác giả bài viết: TS.KTS Phó Đức Tùng
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 30
  • Hôm nay: 91
  • Tháng hiện tại: 8995
  • Tổng lượt truy cập: 620156