HẢI GIA
Công ty Thiết kế Kiến trúc – Quy hoạch hàng đầu Quảng Nam
Xem Phim mô hình 3D phương án Quy hoạch - Thiết kế “Nghĩa Trang liệt sỹ Quảng Nam”
tại website:
http://haigiaquangnam.com
Hải Gia, Công ty Thiết kế Kiến trúc duy nhất tại Quảng Nam có làm phim mô hình 3D
Địa chỉ: 236 Hùng Vương Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT: 0903.597.789

Lược sử quá trình hình thành vùng đất Tam Kỳ từ 1402

Đăng lúc: Thứ tư - 18/05/2011 21:00 - Người đăng bài viết: dangnhap
1306. Vua Chiêm Thành Chế Mân cắt đất 2 châu Ô – Lý đổi lấy công chúa Huyền Trân. Nhà Trần đổi tên thành Thuận Châu (Quảng Bình đến Quảng Trị) và Hoá Châu (Thừa Thiên đến bờ Bắc sông Thu Bồn).
Lược sử quá trình hình thành vùng đất Tam Kỳ từ 1402

Lược sử quá trình hình thành vùng đất Tam Kỳ từ 1402

1307. Chế Mân mất, Chiêm Thành quấy phá chiếm lại đất này.
1390. Chế Bồng Nga bị giết tại Nam Định.
1402. Hồ Hán Thương đánh Chiêm, Chiêm cắt đất thêm Chiêm Động (bờ Nam sông Thu Bồn đến Dốc Sỏi) và Cổ Luỹ (phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi).

Như vậy, sau chiến thắng của nhà Hồ năm 1402, phần đất phía nam của Tỉnh Quảng Nam, trong đó có Tam Kỳ nay đã thuộc lãnh thổ Đại Việt.

Sau khi sáp nhập Chiêm Động và Cổ Luỹ, nhà Hồ thành lập:
                       châu Thăng (Thăng Bình và Duy Xuyên ngày nay)
            và       châu Hoa   (Tam Kỳ, Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, Trà My và Phước Sơn ngày nay).

Còn vùng Cổ Luỹ thì lập châu Tư và châu Nghĩa ( Quảng Ngãi)

1402-1407Nhà Hồ , châu Hoa được chia 3 huyện:
            - Vạn Yên (Tam Kỳ và Núi Thành ngày nay)
            - Cu Hy     (các vùng nguồn Chiên Đàn)
            - Lễ Đễ     (các vùng nguồn Hữu Bang)

1407-1427 Nhà Minh xâm lược và chiếm đóng Đại Việt, Chiêm Thành chiếm lại đất đến Quảng Bình.

1427. Lê Lợi thành công kháng giặc Minh (1418-1427), lập nhà Hậu Lê, thu hồi đất đến bờ Bắc sông Thu Bồn.

 

1470. Lê Thánh Tông diệt Chiêm Thành, chiếm đến đèo Cả (quản lý đến đèo Cù Mông)
1471. Lê Thánh Tông ra sắc lệnh thành lập đạo thừa tuyên thứ 13, kéo dài từ Thừa Thiên đến đèo Cù Mông, gọi là đạo thừa tuyên Quảng Nam. Hợp nhất  châu Thăng và châu Hoa thành phủ Thăng Hoa.

1490. Vua Lê Thánh Tông ( 1460-1497) đổi tên Đạo thừa tuyên Quảng Nam thành Xứ Quảng Nam, trong đó chia phủ Thăng Hoa làm 3 huyện:
           - Hà Đông (tương ứng với huyện Vạn Yên nhà Hồ, gồm Tam Kỳ và Núi Thành ngày nay).
           - Lệ Giang (Thăng Bình ngày nay)
           - Hy Giang

1588 Nguyễn Hoàng được bổ nhiệm trấn thủ Thuận Hoá
1570 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng nắm quyềm kiêm quản cả xứ Quảng Nam
1604 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đổi tên Hy Giang thành Duy Xuyên

1611. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng tách huyện Duy Xuyên về phủ Điện Bàn. Đổi tên huyện Lệ Giang thành Lễ Dương.
          Huyện Hà Đông dưới thời chúa Nguyễn có 59 đơn vị trực thuộc là các xã, phường, thôn, vy tử, nhiêu phu nhưng chưa thấy địa danh Tam Kỳ trong cơ cấu hành chính.

(1767) Có sắc phong còn lưu giữ cho ông Trần Văn Túc ở làng Hương Trà có công đốc thuế tuần đò sông Tam Kỳ (thuộc phường Hoà Hương – Tam Kỳ nay) vào năm Cảnh Hưng thứ 27 ( 1767), câu đầu tiên ghi: “Thị Thăng Hoa phủ, nội phủ Kim hộ thuộc tân lập Tam Kỳ xã” ( xã mới lập Tam Kỳ, thuộc Nội phủ Kim hộ của phủ Thăng Hoa dưới thời Lê Hiển Tông. (Bằng sắc này còn lưu giữ tại nhà ông Trần Văn Tuyền - hậu duệ tộc Trần Văn - phường Hoà Hương, Tam Kỳ).

1775 Trong Phủ biên tạp lục. Lê Quý Đôn viết 1775 đã 2 lần nhắc đến địa danh Tam Kỳ:
            - Tờ 81a- quyển 2: nhật trình đi từ dinh Quảng Nam đến phủ Quảng Ngãi, có qua 1 chặng như sau: “từ chợ Chiên Đàn ra đi, qua quán Suối Đá (có con suối và 1 cầu ván nhỏ), qua quán Phú Khương ở sông Tam Kỳ rồi đến sông Bèo Bèo thì mất một ngày đường”.
            - Tờ 18-a (quyển 4), dựa vào sổ sách của chính quyền, Lê Quý Đôn đã tái xác nhận: “thuế đò Tam Kỳ, mỗi năm 35 quan 1 tiền

1788-1801, Nhà Tây Sơn, đạo thừa tuyên Quảng Nam được chia thành 2 phủ ( 5 huyện): Điện Bàn và Thăng Hoa
            Phủ Thăng Hoa gồm:
                        - Phong Dương (tên mới của huyện Lễ Dương)
                        - Duy Xuyên
                        - Hà Đông (có Tam Kỳ nay)

1801Vua Gia Long nhập Điện Bàn và Thăng Hoa, lập Dinh Quảng Nam (cùng với các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức/Thừa Thiên)
            Theo địa bạ lập năm 1814-1815, Dinh Quảng Nam gồm 2 phủ - 5 huyện – 29 tổng – 973 làng xã.

            Huyện Hà Đông có 4 tổng, 2 thuộc - 154 làng
                        - Tổng Chiên Đàn Trung           (4 làng - gồm Tam Kỳ)
                        - Tổng Đức Hoà Trung             (6 làng)
                        - Tổng Tiên Giang Thượng        (6 làng)
                        - Tổng Vinh Hoa Trung             (3 làng)
                        - thuộc Hội Sơn Nguyên           (2 làng)
                        - thuộc Liêm Hạ                       (133 làng)

1827 Vua Minh Mạng đổi Dinh Quảng Nam thành Trấn Quảng Nam
1832 Tỉnh Quảng Nam
Bản đồ do C.Paris vẽ 1889

1906.Vua Thành Thái (1889-1907) đã ra đạo dụ nâng Huyện Hà Đông thành phủ Hà Đông rồi sau đó đổi tên thành phủ Tam Kỳ. 
Bao gồm: Tam Kỳ, Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Trà My và Phước Sơn ngày nay.
            Phủ Tam Kỳ nằm ở phía đông nam tỉnh thành Quảng Nam

1920 Pháp thành lập huyện Tiên Phước, cắt một số xã phía Tây phủ Tam Kỳ và các xã vùng thấp Trà My.

1920– 1945, cơ  cấu đơn vị hành chính tỉnh Quảng Nam ổn định gồm 8 phủ huyện 951 tổng - 1.075 xã, phường, châu)
            Phủ      : Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ
            Huyện: Đại Lộc, Hoà Vang, Quế Sơn, Tiên Phước
            Phủ Tam Kỳ gồm 7 tổng (157 xã) và lần đầu tiên xuất hiện địa dang Tam Kỳ là một xã thuộc tổng Chiên Đàn. (1)  

1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, huyện Tam Kỳ tiến hành hợp 157 xã thành 52 xã: Tam Kỳ là một xã(2)

1949, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, huyện Tam Kỳ hợp xã lần 2, từ 52 xã thành 15 xã: Tam Chánh (gồm Tam Kỳ cũ), Tam Thăng, Tam Phước, Tam Thái, Tam Dân, Tam An, Tam Anh, Tam Lãnh, Tam Sơn, Tam Hiệp, Tam Tiến, Tam Nghĩa, Tam Hải, Tam Thanh, Tam Xuân.

1951Thị xã Tam Kỳ là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, thành lập theo Nghị định số 241-MNS ngày 30-11-1951 của Uỷ ban kháng chiến hành chính miền nam Trung Bộ, kháng chiến chống Pháp.
            Gồm 5 xã: Hoà Khương, Phước Hoà, An Xuân, An Sơn, An Mỹ.

1951 đổi tên thành xã đặc biệt Tam Kỳ, trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, theo Nghị định của Uỷ ban kháng chiến hành chánh miền nam Trung Bộ.

1956-1958, chế độ Việt Nam cộng hoà cơ cấu hành chính tỉnh Quảng Nam gồm 2 thị xã (Đà Nẵng và Hội An/ tỉnh lỵ) và 10 huyện (Tam Kỳ, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hiếu Đức, Hoà Vang, Thường Đức, Đại Lộc, Hiệp Đức, Thăng Bình, Quế Sơn). Lực lượng cách mạng chiếm giữ 4 nha hành chánh là: Phước Sơn, Bến Hiên, Bến Giằng, Trung Man.

            Huyện Tam Kỳ gồm 1 thị trấn và 20 xã: thị trấn Tam Kỳ, Kỳ Long, Kỳ Thịnh, Kỳ Liên, Kỳ Dương, Kỳ Mỹ, Kỳ Hà, Kỳ Lý, Kỳ Bích, Kỳ Sanh, Kỳ Trà, Kỳ Hưng, Kỳ Chánh, Kỳ Quý, Kỳ Trung, Kỳ Thành, Kỳ Sơn, Kỳ Anh, Kỳ Phương, Kỳ Nghĩa, Kỳ Phú.

1958, Nghị định số 335-NC/P6 ngày 24-6-1958 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính phủ Việt Nam Cộng hoà chia tỉnh Quảng Nam thành 12 quận (227 xã) và 2 thị xã. Hội An là thị xã tỉnh lỵ, thị xã Đà Nẵng gồm 3 quận: I, II, III. 12 quận gồm: Tam Kỳ, Điện Bàn, Hoà Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc, Tiên Phước, Quế Sơn, Trà My, Thăng Bình, Hoà Tân (tách Hoà Vang), Hiên - Giằng và Phước Sơn.

            Quận Tam Kỳ gồm 1 quận lỵ và 23 xã: quận lỵ Tam Kỳ, Kỳ Hà, Kỳ Trà, Kỳ Sanh, Kỳ Khương, Kỳ Liên, Kỳ An, Kỳ Thạnh, Kỳ Chánh, Kỳ Mỹ, Kỳ Bình, Kỳ Lý, Kỳ Hưng, Kỳ Bích, Kỳ Trung, Kỳ Phú, Kỳ Hương, Kỳ Anh, Kỳ Quế, Kỳ Sơn, Kỳ Long, Kỳ Thành, Kỳ Yên, Kỳ Nghĩa.

1962Sắc lệnh số 162-Nv ngày 31/7/1962 chính phủ Việt Nam cộng hoà chia tách tỉnh Quảng Nam thành 2 đơn vị hành chính: Tỉnh Quảng Nam ở phía bắc và Tỉnh Quảng Tín ở phía Nam. Khu Uỷ V chính quyền cách mạng cũng chia tỉnh Quảng nam thành 2 đơn vị là tỉnh Quảng Đà ở phía bắc và Tỉnh Quảng Nam ở phía nam.

Tách Quảng Nam

Việt Nam Cộng Hoà

Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà

      Bắc

Quảng Nam

Quảng Đà

      Nam

Quảng Tíngồm:

Quảng Nam gồm:

 

 

 

 

Thị xã Tam Kỳ

thị xã Tam Kỳ

 

quận Tam Kỳ

huyện Bắc Tam Kỳ

 

quận Lý Tín (tách TKỳ)

huyện Nam Tam Kỳ

 

quận Hậu Đức

huyện Quế Sơn

 

quận Hiệp Đức

huyện Trà Sơn (TMy&P.Sơn)

 

quận Tiên Phước

huyện Tiên Phước

 

quận Thăng Bình

huyện Thăng Bình

 

Quận Tam Kỳgồm một thị xã Tam Kỳ và 19 xã:
Tam Kỳ (thị xã), Kỳ Lý, Kỳ Trà, Kỳ Bích, Kỳ Mỹ, Kỳ Trung, Kỳ Bình, Kỳ Nghĩa, Kỳ Yên, Kỳ Anh, Kỳ Phú, Kỳ Phước, Kỳ Hưng, Kỳ Quế, Sơn phần Công Hoàng, Kỳ Hương, Kỳ Sơn, Kỳ Long, Kỳ Thịnh.

1975. UBNDCM Nam Trung Bộ ra quyết định số 119 ngày 4/4/1975 sáp nhập tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

1983, quyết định số 144-HĐBT ngày 03/12/1983 của Hội đồng Bộ trưởng, tách huyện Tam Kỳ thành 2 đơn vị hành chánh là thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành.

            (Cần làm rõ huyện Bắc, Nam và thị xã cũ đi đâu??)

            Huyện Núi Thành gồm: Núi Thành (thị trấn), Tam Nghĩa, Tam Xuân, Tam Tiến, Tam Anh, Tam Trà, Tam Giang, Tam Quang, Tam Thạnh, Tam Sơn, Tam Mỹ, Tam Hoà, Tam Hiệp, Tam Hải.  

            Thị xã Tam Kỳgồm 7 phường và 13 xã: Phước Hoà, Hoà Hương, An Sơn, An Xuân, An Mỹ, Trường Xuân, Tân Thạnh; Tam Ngọc, Tam Thái, Tam Dân, Tam Vinh, Tam An, Tam Đàn, Tam Phước, Tam Thành, Tam Lộc, Tam Thăng, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Lãnh.

1984, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng gồm 16 đơn vị hành chính với 1 thành phố: Đà Nẵng và 2 thị xã: Hội An, Tam Kỳ và 13 huyện: Điện Bàn, Hoà Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành, Quế Sơn, Tiên Phước, Hiệp Đức, Hiên, Phước Sơn, Trà My và Hoàng Sa. (có thiếu huyện Giằng không?)

1996, Quốc hội khoá IX, ngày 06/11/1996, phê chuẩn việc tách Quảng Nam và Đà Nẵng thành 2 đơn vị hành chính độc lập. Tỉnh lỵ Quảng Nam là thị xã Tam Kỳ. Thị xã Tam Kỳ vẫn gồm 7 phường và 13 xã như cũ.

2002 Thị xã Tam Kỳ được phép điều chỉnh địa gíới phường Tân Thạnh và xã Tam Phú, lập mới phường An Phú.

2003. Nghị định số 72/2003/NĐ-CP ngày 20/6/2003 chia huyện Hiên thành Đông Giang và Tây Giang, chia huyện Trà My thành Bắc Trà My và Nam Trà My.
 

2005, Nghị định 01/2005/NĐ-CP ngày 05/1/2005, Thị xã Tam Kỳ được phép điều chỉnh địa giới phường Tân Thạnh và xã Tam Đàn, lập mới phường Hoà Thuận; điều chỉnh địa giới xã Tam Thái, tách thêm xã Tam Đại.

            Thành lập mới huyện Phú Ninh từ 10 xã của thị xã TamKỳ: Tam An, Tam Đàn, Tam Phước, Tam Thành, Tam Lộc, Tam Vinh, Tam Đại, Tam Thái, Tam Dân, Tam Lãnh.

            Thị xã Tam Kỳ còn 9 phường và 4 xã (còn lại): Trường Xuân, An Xuân, Phước Hoà, Hoà Hương, An Sơn, An Mỹ, An Phú, Tân Thạnh, Hoà Thuận, Tam Phú, Tâm Thăng, Tam Thanh, Tam Ngọc.

2006, Nghị định số 113/2006/ NĐ-CP ngày 29/9/2006 của chính phủ về thành lập thành phố Tam Kỳ

Tam Kỳ và Phú Ninh trên nền hiện trạng 1994

(1) - Tổng Chiên Đàn 29 xã gồm: Tam Kỳ, Chiên Đàn, Long Sơn, Tân An, Phú Trạch, Long Phước, Hoà Tây, Khánh Thọ Tây, Khánh Hoà Đông, Tam Xuân, Phương Hoà, Tam Dương, Đại Khanh, Dương Ký, Dương Đàn, Thành Mỹ, Trung Dinh, Đàn Tây, Cửu An, Đàn Trung, Đàn Đông, Mỹ Hương, Mỹ Thạch, Dục Tân, Trường Xuân, Tú Ban, Phú Trà, Mỹ Lý, Xuân Trung.
- Tổng An Hoà 18 xã gồm: An Hoà, Hoà Xuân, Tam Lộc, Phú Vinh, Xuân Ho, Nghi Xuân, Vinh An, Long Bình, Định Phước, Thanh Trà, Hoa Trà, Tiên Quả, Tam Hà, Diêm Điền, Lý Trà, Vĩnh Đại, Ngạo Tân, Diêm Trường.
- Tổng Phước Lợi gồm 19 xã: Phước Lợi, Bồng Miêu, Quế Phương, Ngọc Anh, An Trung, Đôn Quế, Ngọc Nha, Tam Thanh, Tú An, Phước Đàn, Danh Sơn, Phú Ninh, Thanh Lâm, Anh Lâu, Ngọc Thọ, Tam Sơn, Thanh Lợi, Trung Đàn, Đàn Thượng.
- Tổng Đức Hoà 21 xã gồm: Trà Tây, Thọ Khương, Phước Khách, An Thiện, Vân Trai, Đức Thạnh, Bái Nhơn, Sung Mỹ, Đa Phú, Tịch Tây, Tịnh Sơn, Trung Tịnh, Tam Tân, Thạnh Trung, Phú Đại, Xuân Tứ, Thuận Tân, Hoà Vân, Xuân Vinh, Tú Mỹ, Long Phú
- Tổng Đức Tân 19 xã gồm: Thạch Kiều, Trung Chánh, Thạch Xương, Đức Bố, Phú Thọ, Trường Cửu, Phú Tân, Quí Đức, Thuận Đông, Diêm Phố, Xuân Bình, Phú Đức, Bích Ngô, Tam Đức, Hoà Thượng, Thuận Đức, Thái Hoà, Đức Phú, Trường An.
- Tổng Phú Quý 24 xã gồm: Quảng Phú, Phú Ngọc, Tịch Đông, Vinh Giang, Xuân Quý, Tam Quý, Phương Tân, Hà Thanh, Trung Thạnh, Phú An, Phú Hưng, Tịnh Thuỷ, Thượng Thanh, Thạch Tân, Phú Thạnh, Kim Đàn, Tân Lộc, Quý Thượng, Tam Mỹ, Lộc Ngọc, Phước Xuyên, Ngọc Mỹ, Đoan Trai, An Hạ.
- Tổng Vĩnh Quý 27 xã gồm: Vĩnh Quý, Kỳ An, Quý Xuân, Vĩnh An, Mỹ Thành, Trường Thành, Văn Hà, An Loan, Tam cẩm, Khánh Mỹ, Đông Lộc, Tân Vinh, Khánh Lộc, Lộc Sơn, Thanh Đức, Phú Thị, Ngọc An, Lâm Môn, Tam An, Vĩnh Phú, Tư Than, Phú Nghĩa, Lai Cách, Tam Phú, Tam Vinh, Lam Diên, Cẩm Khê
(2) huyện Tam Kỳ tiến hành hợp 157 xã thành 52 xã: Tam Kỳ, Đông Ngĩa, Quý Thạnh, Long Hưng, Tam Phú, Hoà Thanh, Tú Dân, Phú Quý, Mỹ Phương, Chiên Đàn, Mỹ Phước, Xuân Mỹ, Mường Phương, Tứ Dân, Phú Trường, Thái An, Khách Đaịi, Ngọc Bích, Tân Tiến, Long Kỳ, Thanh Minh, Ngọc Tụ, Khánh An, Kỳ Phước, Thạnh My, Phụng Nghi, Châu Tu, Tân Phước, Phước Thượng, Phương Thanh, Đức Phú, Thuận Hoa, Trường Sơn, Đức Ly, An Xuân, Diêm Phố, Tú Phước, Hoa Tân, An Hoa, Nguyễn Chỉ (Tam Giang), Xuân Quang, Tam Hoà, Vân Khương, Trung Sơn, Nguyễn Phụng, Hoà An, An Đức, Tân Ngọc, Tứ Phụng, Hưng Phú, Châu Toàn, Vĩnh An.


http://www.truongduynhat.vn/12547/

Có 500 năm như thế

“Có 500 năm như thế”- Hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam của nhà văn Hồ Trung Tú.

 

          “Đó là cuộc va chạm giữa hai nền văn minh lớn của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa. Phải chăng cú va chạm “nẩy lửa” ấy vẫn còn để lại dấu vết đâu đó trong tâm hồn người Quảng Nam? Họ như luôn phải khẳng định một điều gì đó, trung thành với một niềm tin nào đó; không thế họ không sống được; họ như cảm thấy thất bại và không tồn tại. Phải chăng họ hay cãi cũng vì thế? Biết làm sao được, họ đã có cả một lịch sử dài đến 500 năm để cãi nhau kia mà!” – “Có 500 năm như thế”, hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam của nhà văn Hồ Trung Tú, giải thưởng sách hay 2012 vừa được tái bản. Tác phẩm như nhà văn Nguyên Ngọc nhận định “là một nghiên cứu công phu, đề cập đến một vấn đề có lẽ là quan trọng nhất trong hành trình hình thành bản sắc của dân tộc chúng ta là vấn đề người Việt Nam đã gặp gỡ và tiếp biến văn hóa với các dân tộc khác như thế nào, điều này chúng ta biết, đã để lại những dấu ấn rất sâu trong việc hình thành bản sắc văn hóa Việt. “Có 500 năm như thế” theo chúng tôi là một cách tiếp cận rất mạnh dạn và sáng tạo”.

          Còn tiến sĩ Lê Thanh Hải, Viện hàn lâm khoa học Ba Lan đánh giá: “Hồ Trung Tú đưa người đọc đến những gợi mở mà cũng chính là các phát hiện của anh về bản thân mình, rằng sẽ có lúc chúng ta nhận ra cái bản sắc văn hóa mà chúng ta đang có nó hình thành từ xa xưa và từ nhiều nguồn gốc, với những đóng góp vào những  mảng tâm hồn quan trọng chứ không phải chỉ có đơn tuyến, một chiều như đã hình dung lâu nay. Với tác phẩm của Hồ Trung Tú, ngành nhân học trên thế giới có thêm một ví dụ minh họa cho lập luận của Fredrik Barth, rằng bản sắc định hình mạnh nhất ở nơi ranh giới”.

          Xin giới thiệu bản diễn từ nhận giải “sách hay 2012” của tác giả:                                                    

        “Để đi đến được với bức hình được làm bằng photoshop từ rất nhiều những bức ảnh cổ từ thời Pháp và trước đó nữa ghép lại làm bìa cho lần tái bản này tôi cũng đã phải trải qua một quá trình nhận thức rất dài mới có được sự hình dung về một thời kỳ rất dài của dân tộc, cái hình ảnh biểu trưng đã từng xuất hiện rất dài trên quê hương Quảng Nam của mình như thế này.  

          Trong tâm thức nhiều người đây như một vùng đất không người ở, mờ nhạt trên mặt đất là những con đường mòn cũ, ai đó đã đi qua và tạo nên họ cũng không buồn bận tâm. Trên con đường ấy thỉnh thoảng có vài lưỡi cuốc, lưỡi cày, vài từ ngữ rơi vãi được người Việt đến nhặt lên và sử dụng. Và họ gọi đó là tiếp thu văn hóa! Tất cả chỉ có vậy, không hơn không kém!  

          Đã từng có lúc họ âm mưu triệt tiêu nhau, như không thể đội trời chung, nhưng cũng có lúc choàng vai nhau mà đi, giúp nhau từng bát cơm, hạt muối lúc gian nan, lúc binh đao cũng như lúc bão lũ; lúc thì người này che giấu người kia nhưng cũng có lúc người kia chịu hiểm nguy để đứng lên bảo vệ người này khỏi những cuộc truy sát. “Tội đồ của ta chúng hết thảy bao dung” (Chiếu bình Chiêm), nhưng con trai của Chế Bồng Nga cũng sẵn sàng hy sinh cho Đại Việt khi các tướng Đại Việt đã bỏ chạy cả! Họ đã từng cãi nhau rằng tau mới là văn minh còn mi là mọi rợ! Nhưng họ cũng đã từng gả con cái cho nhau, từng ngồi mâm cơm sui, từng chung một đội nhạc đưa linh, từng cùng nhau giữ gìn bờ cõi chống kẻ thù chung; hết lớp cha đến lớp con. 500 năm là bao nhiêu đời? Những đứa trẻ đã chơi cùng nhau trên cùng cánh đồng, bơi bên nhau trên cùng dòng sông, thả trâu trên cùng một vạt cỏ làng; cùng chơi chung nhưng cũng cùng đánh nhau, cùng bảo “tau đi đường ni có bông có hoa, mi đi đường nớ có ma đứng đàng”… Điều lý thú là suốt 20 thế hệ như vậy nhưng nếp nhà ai thì nhà nấy giữ; khác nhau mà không phủ định nhau, mỗi người một vẻ đẹp, nếu có hơn có kém thì một đã mất đi trong vài thế hệ chứ sao kéo dài được 500 năm không mai một?

          Hình tượng này đã đến lúc cần được thay đổi, trên con đường ấy không phải chỉ có một người bước đi mà đã có ít nhất hai người lữ hành cùng bước bên nhau suốt 500 năm dài đằng đẵng.

          Thật khó mà nói được chúng ta đây, chí ít ở đây là bác Nguyên Ngọc, anh Trần Văn Thọ, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn là hậu duệ của ai trong hai người này ? Tôi e rằng chúng ta sẽ thất vọng nhiều nếu ngày làm ADN ta chẳng thấy liên quan gì đến Phú Thọ cả. Thế nhưng ở đây vấn đề không phải là bộ gien, không phải là chuyện nhân chủng mà vấn đề chính là văn hóa. Ứng xử và tâm hồn của các anh nghiêng nhiều về người nào mới là điều quan trọng. Phân tích cho rạch điều này thật khó, không hề đơn giản nhưng tôi nghĩ khi có cái nhìn đúng cứ lao vào rồi ta sẽ gỡ được dần từng múi. Chỗ nào rối quá, không gỡ được thì ta đi đường vòng, giống như chuyện yêu cầu phải đối chiếu sự biến âm ta không thể làm được do không biết hồi đó người Chăm nói sao và người Việt nói sao.

          Chặng cuối con đường đó không phải chỉ còn lại một người mà vì nhiều lý do khiến cả hai đã nhập vào làm một. Chỉ một điều đáng tiếc là con cháu họ lại cứ đinh ninh rằng cuộc hành trình đó chỉ có một, mà không hay rằng đang tự làm nghèo mình đi, đó là chưa nói đã vô tình mà có lỗi rất nhiều với ông bà tổ tiên mà không hay không biết!

          Sự thật này là khắc nghiệt, nhưng cần phải nhìn thẳng vào nó và nói lên bằng những lời rõ ràng nhất! Sự tự hào về nền văn hóa Việt không ngăn cản ta tự hào với bất cứ gốc gác nào đã góp phần tạo nên sự tự hào đó”.

          Hồ Trung Tú


BÀI ĐỌC THÊM:

>>> Cảm nghĩ sau khi nghe báo cáo QH chung Tam Kỳ

>>> Góp ý Quy hoạch Tam Kỳ

>>> Giá trị văn hóa sinh thái Vùng Đông Tam Kỳ

>>> Quy hoạch Tam Kỳ: Góc nhìn địa văn hóa

 

Tác giả bài viết: KTS. Huỳnh Quốc Hội
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 26
  • Hôm nay: 87
  • Tháng hiện tại: 8991
  • Tổng lượt truy cập: 620152